1001 nguyên nhân và thuốc trị đái dầm cho trẻ em

0
14
1001 nguyên nhân và thuốc trị đái dầm cho trẻ em
1001 nguyên nhân và thuốc trị đái dầm cho trẻ em

Đái dầm là đi tiểu trong khi ngủ và không cảm thấy như vậy cho đến khi thức dậy, vì vậy nó còn được gọi là đái dầm. Nó chủ yếu là bệnh của trẻ em từ 3 đến 12 tuổi. Bệnh này còn được gọi là “di niệu” trong y học cổ truyền. Người ta tin rằng cả thận và bàng quang đều không đủ và không thể hạn chế đường dẫn nước, hoặc lá lách và phổi khí không đủ và không thể hạn chế đường dẫn nước. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu nguyên nhân và thuốc trị đái dầm cho trẻ em trong bài viết sau đây!

1001 nguyên nhân và thuốc trị đái dầm cho trẻ em
1001 nguyên nhân và thuốc trị đái dầm cho trẻ em

1. Nguyên nhân đái dầm ở trẻ em

1.1. Hệ thống điều hòa thần kinh và đái dầm

Nghĩa là trung tâm bài tiết chính của vỏ não, thân não và tủy sống , và các dây thần kinh âm hộ , dây thần kinh bụng, dây thần kinh vùng chậu và dây thần kinh xương cùng chi phối bàng quang và niệu đạo.

Do sự chậm phát triển chức năng của não và thân não , khả năng kiểm soát yếu kém đối với trung tâm bài tiết chính của tủy sống , hoặc sự suy yếu của tủy sống và các đường dẫn truyền thần kinh khác, v.v., mất kiểm soát bàng quang và niệu đạo dẫn đến đái dầm.

1.2. Đái dầm và bàng quang

Chức năng bàng quang chậm phát triển và không có khả năng kiểm soát tự chủ một cách an toàn.

Hiện tượng co thắt tự do xảy ra trong thời gian lưu trữ, dẫn đến dung tích bàng quang nhỏ, độ nhạy cao và khả năng tuân thủ kém; bàng quang đầy và tâm thu khả năng tri giác không cao, cường độ kích thích lên vỏ não thấp hơn ngưỡng kích thích khi ngủ.

Chức năng thụ cảm áp suất của bàng quang không bình thường, không đưa được thông tin cảnh báo sớm… khiến đi tiểu trước khi thức dậy.

1.3. Đái dầm và niệu đạo

Suy giảm chức năng đóng niệu đạo, nghĩa là đái dầm do niệu đạo không ổn định , biến dạng niệu đạo như hẹp bẩm sinh, v.v.

1.4. Đái dầm và rối loạn chức năng thức-ngủ

Chậm phát triển chức năng thức-ngủ và rối loạn chức năng kích thích là một trong những nguyên nhân chính gây ra đái dầm, và rối loạn chức năng có thể là do không thể làm đầy bàng quang và nhận thức co bóp hoặc mệt mỏi quá mức khiến giấc ngủ quá sâu. được gây ra bởi suy tiết niệu hoặc chậm phát triển.

1.5. Đái dầm và giảm tiết ADH

Sự bài tiết ADH ở người bình thường ban ngày ít hơn ban đêm (1:2,5) và lượng nước tiểu thay đổi tỷ lệ nghịch với sự bài tiết ADH (tỷ lệ giữa lượng nước tiểu giữa các ngày) và đêm khoảng 3- 4:1).

Một số trẻ đái dầm do ADH tiết không đủ về đêm (1:1,4) dẫn đến lượng nước tiểu về đêm tăng, nước tiểu loãng làm tăng gánh nặng cho bàng quang và gây đái dầm. .

1.6. Đái dầm và di truyền

Khoảng 30-40% bệnh nhân đái dầm có tiền sử gia đình, theo nghiên cứu cho thấy đó là di truyền đa gen, xác suất xuất hiện khác nhau do chủng tộc và khu vực khác nhau. Nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh đái dầm của cả cha và mẹ là 77%, tỷ lệ mắc bệnh của cha hoặc mẹ mắc bệnh đái dầm là 44% và tỷ lệ mắc bệnh của trẻ không đái dầm chỉ là 15%.

1.7. Đái dầm và những bất thường về tinh thần , tâm lý và hành vi

Kích thích tinh thần đột ngột như sợ hãi, hoảng sợ, giận dữ, buồn bã, suy nhược tâm lý mạnh và hành vi bất thường, lú lẫn, v.v. Những yếu tố này lại góp phần gây ra chứng đái dầm dai dẳng khó chữa ở trẻ em và người lớn đang lớn.

1.8. Đái dầm và bệnh tật

Các bệnh gây đái dầm đến từ nhiều hệ thống, bao gồm hệ thống hữu cơ , viêm nhiễm, chuyển hóa và chấn thương, v.v. Những bệnh phổ biến là:

  • Các bệnh về hệ thần kinh : động kinh , bệnh não , khối u não , bệnh mạch máu não , bệnh đa xơ cứng não tủy, viêm và khối u tủy sống, xuất huyết, thoát vị màng não, nứt đốt sống thắt lưng , v.v.
  • Các bệnh về hệ thống tiết niệu : dị dạng ( hẹp niệu đạo , hẹp niệu đạo, hẹp lỗ tiểu, van niệu đạo, tắc nghẽn cổ bàng quang, bao quy đầu ở nam giới , hẹp bao quy đầu , v.v.), viêm nhiễm ( viêm thận , viêm bể thận , viêm bàng quang , viêm niệu đạo , viêm quy đầu ), sỏi , tổn thương thận, v.v.
  • Các bệnh khác: như tiêu chảy mãn tính, đau bụng, khí quản và bệnh phổi kéo dài với ho mãn tính; thùy sau tuyến yên ngoài tử cung liên quan đến chuyển hóa, tuyến yên và bệnh đái tháo nhạt do thận, bệnh tiểu đường, v.v.; thiếu máu nặng và tăng huyết áp liên quan đến canxi máu , hạ kali máu,…; thủ dâm liên quan đến thói quen xấu, sức ì; một số khác bị rối loạn ngưng thở khi ngủ, dị ứng,…

1.9. Đái dầm và chức năng nội tạng

Y học cổ truyền cho rằng đái dầm có liên quan đến sự phát triển không hoàn hảo của chức năng nội tạng, chẳng hạn như bàng quang chậm phát triển và chức năng yếu, đặc biệt là do tỳ, thận và phổi yếu.

Thận là gốc của sự sống con người nên được gọi là cái gốc của bẩm sinh , thận tàng trữ tinh khí, chi phối sự phát triển, sinh sản, sinh tủy, phát triển trí não.

Thận và bàng quang là bên ngoài và bên trong, thận dương đủ để làm ấm bàng quang, thăng khí để chuyển hóa thủy, bàng quang có quyền chứa đựng cơ thể, có thể đóng mở tùy mức độ; thận dương suy, sinh mệnh hỏa yếu, âm khí cực mạnh, cho nên có “hạ khí “, suy kiệt dẫn đến tiểu tiện không tự chủ, thận khí thiếu dẫn đến tâm và hỏa giao thoa. thận thì tâm khô, dễ cáu gắt, thận khí thiếu thì xương yếu, tủy thiếu thì não yếu, chậm lớn hoặc mập mà không cứng cáp, kém thông minh, vụng về.

  • Tỳ hư đái dầm

Lá lách là cơ sở của hiến pháp thu được , là nguồn gốc của khí và máu, và lá lách dương mạnh mẽ, có thể kiểm soát nước, nâng cao độ trong và giảm độ đục. Tỳ dương hư dẫn đến nhu động dạ dày giảm, thời gian làm rỗng dạ dày kéo dài, giảm bài tiết dịch vị, giảm amylase nước bọt và amylase tụy, dẫn đến ăn không ngon, vận chuyển và chuyển hóa nước và ngũ cốc kém, khí huyết không được sinh hóa, không thông được . giữ gìn bẩm sinh Nguyên khí gây ra thận hư bàng quang hư đái dầm.

  • Phổi yếu đái dầm

Phế chủ quản khí , là nguồn của thượng thủy, có chức năng thông khí, thông thủy, giáng thủy, nếu phế khí suy thì thông khí giáng xuống mất đi, thủy tràn vào khiến bàng quang bị ứ. thất hẹn và bị bỏ lại, nếu thủy không hạ xuống được sẽ khiến hạ bộ phát nhiệt, dẫn đến phân khô , bàng quang nóng ẩm, tiểu không thông, ngủ li bì không dậy và thường xuyên đái dầm.

  • Đái dầm nhiệt ở kinh gan

Can kinh ẩm thấp, nội nhiệt uất kết cũng khiến bàng quang tự nhiễm.

1.10. Yếu tố giáo dục

Ngoài yếu tố di truyền, tật nứt đốt sống hay gai đôi cột sống, một nguyên nhân quan trọng khiến trẻ đái dầm tiếp tục trở thành đái dầm là do cha mẹ rèn luyện tiểu tiện không khoa học. Huấn luyện đi tiểu không khoa học bao gồm:

  • Si tè cho bé lúc nước tiểu chưa đầy bàng quang;
  • Không đi tiểu hoặc tiểu trong thời kỳ đầy bàng quang, chẳng hạn như sử dụng bỉm và các miếng thấm tiểu khác trong thời gian dài;
  • Khiển trách hoặc xử phạt sau khi đái dầm. Luyện tập tiểu tiện khoa học vẫn là biện pháp quan trọng không thể bỏ qua trong điều trị đái dầm ở trẻ.

2. Cách chữa đái dầm cho trẻ em

Cách trị đái dầm cho trẻ 4 tuổi hoặc bất kỳ độ tuổi nào là không nên trách móc, đánh đập trẻ mà nên động viên để trẻ quyết tâm chữa đái dầm. Cha mẹ dành cho con cái rất nhiều sự quan tâm và yêu thương. Không uống nước sau bữa tối, đi tiểu trước khi đi ngủ, đánh thức trẻ đi tiểu 1, 2 lần trong đêm.

Rèn luyện bàng quang: Hướng dẫn trẻ kéo dài thời gian đi tiểu trong ngày càng nhiều càng tốt, dần dần kéo dài từ 1/2 đến 1 giờ một lần đến 3 đến 4 giờ một lần để mở rộng dung tích bàng quang.

Luyện phản xạ có điều kiện: Sử dụng bộ thiết bị báo đái dầm để luyện cho trẻ thức dậy trước khi đái dầm. Đặt miếng đệm điện tử dưới cơ thể trẻ và kết nối với chuông điện, sau khi miếng đệm điện tử bị nước tiểu làm ướt, kết nối mạch điện để chuông điện phát ra âm thanh, đánh thức trẻ dậy đi tiểu.

3. Thuốc trị đái dầm cho trẻ em

Dùng thuốc trị đái dầm cho trẻ em là phương pháp điều trị kèm các biện pháp trên. Khi này, các bác sĩ sẽ kê một số loại thuốc như imipramine, propensine hoặc oxybutynin, Ephedrine 25mg.

  • Thuốc Imipramine: Là chất kích thích trung tâm có thể làm giảm độ sâu của giấc ngủ , uống 25-50 mg mỗi tối trong 3-4 tháng liên tục. Nếu bệnh tái phát sau khi ngừng thuốc, có thể dùng lại thuốc.
  • Thuốc chẹn phó giao cảm: propensine hoặc oxybutynin (Oxybutynin, tức là ditropan, doling nước tiểu). Uống trước khi đi ngủ có thể làm giãn cơ detrusor và ức chế sự co bóp của bàng quang.
  • Ephedrine 25mg uống trước khi đi ngủ. Có thể tăng co bóp cổ bàng quang và niệu đạo sau.

Ba mẹ cần lưu ý không nên cho bé dùng thuốc khi chưa có sự chỉ định của bác sĩ vì có thể gây ra nhiều tác dụng phụ hoặc gặp phải tình trạng tái phát khi ngưng dùng thuốc.

Để hạn chế điều đó, ba mẹ nên tham khảo Thuốc trị đái dầm Đức Thịnh để điều trị cho bé. Đây là sản phẩm được chiết xuất hoàn toàn từ tự nhiên nên không gây tác dụng phụ và giúp điều trị tận gốc của bệnh – do tỳ, thận và phổi yếu.

Thuốc trị Đái dầm Đức Thịnh
Thuốc trị Đái dầm Đức Thịnh

Ba mẹ nào còn thắc mắc về tình trạng đái dầm ở trẻ em, hãy liên hệ hotline 087.658.8866 hoặc máy bàn 1900.63.64.55 để được các chuyên gia tư vấn nhé!